CHỨNG NHÂN TIN MỪNG – CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN – NĂM B
28 September, 2018

LỜI CHÚA – CHÚA NHẬT TUẦN XXVI THƯỜNG NIÊN B

LỜI CHÚA: LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN, NĂM B

Twenty-sixth Sunday in Ordinary Time


SỐNG LỜI CHÚA

GOSPEL : MK 9:38-43,45,47-48

At that time, John said to Jesus,
“Teacher, we saw someone driving out demons in your name,
and we tried to prevent him because he does not follow us.”
Jesus replied, “Do not prevent him.
There is no one who performs a mighty deed in my name
who can at the same time speak ill of me.
For whoever is not against us is for us.
Anyone who gives you a cup of water to drink
because you belong to Christ, 
amen, I say to you, will surely not lose his reward.

“Whoever causes one of these little ones who believe in me to sin,
it would be better for him if a great millstone
were put around his neck
and he were thrown into the sea.
If your hand causes you to sin, cut it off.
It is better for you to enter into life maimed
than with two hands to go into Gehenna,
into the unquenchable fire.
And if your foot causes you to sin, cut if off.
It is better for you to enter into life crippled
than with two feet to be thrown into Gehenna.
And if your eye causes you to sin, pluck it out.
Better for you to enter into the kingdom of God with one eye
than with two eyes to be thrown into Gehenna,
where ‘their worm does not die, and the fire is not quenched.'”

TIN MỪNG : Mc 9,38-43.45.47-48

Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta. Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

Khi ấy, ông Gio-an nói với Đức Giê-su rằng : “Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.” Đức Giê-su bảo : “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.

“Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

“Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn. Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi ; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi ; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi ; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.”

SUY NIỆM

PHE PHÁI

Câu chuyện vui kể rằng: Chân, Tay, Tai, Mắt, Mũi, Miệng đang sống hòa thuận với nhau. Một ngày kia, tất cả các bộ phận nhận ra rằng mình làm việc vất vả quanh năm, còn Miệng thì chỉ có ăn với uống. Vì thế, họ cùng nhau không làm việc nữa. Sau vài ngày như thế, ai cũng mệt mỏi rã rời đến kiệt sức. Họ lại họp bàn với nhau và nhận ra sai lầm của mình, đó là nhờ việc ăn uống của Miệng, họ mới khỏe khoắn, có sức hoạt động. Họ hối hận và quay trở lại kiếm thức ăn cho lão Miệng cũng đang sống dở chết dở. Nhờ đó, ai cũng tươi tỉnh, khỏe khoắn hẳn ra.

Luật nhân quyền quốc tế, điều 20 quy định rằng: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội, một cách ôn hòa”. Điều này nói lên khát vọng sâu xa của con người đó là đi vào tương quan với người khác. Nhưng, cũng có nguy cơ chỉ đóng kín trong những người thân thuộc với mình và loại trừ những người khác. Não trạng này cũng xuất hiện ngay trong chính cộng đoàn các Tông đồ. Vì thế, lời dạy của Đức Giêsu hôm nay mang đến một quy tắc vàng cho việc hiệp thông giữa các nhóm với nhau: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.”

Với nguyên tắc này, những tranh giành, kỳ thị giữa người với người, giữa các quốc gia với nhau sẽ được hòa giải. Từ đó, tình hiệp thông giữa người với người, các quốc gia với nhau sẽ càng thêm bền chặt, để cùng nhau xây dựng thế giới tràn ngập tình Chúa và tình người.

(Chấm nối chấm – Học Viện Đaminh)

LỜI NGUYỆN TRONG NGÀY

Lạy Chúa Giêsu, Ngài là nguồn hiệp nhất trong Giáo hội, xin liên kết chúng con nên một trong tình yêu Chúa, ngõ hầu chúng con biết cùng nhau loan báo Tin Mừng và thay đổi bộ mặt thế giới ngày càng tốt đẹp hơn. Amen.

TU ĐỨC SỐNG ĐẠO

Đức Giê-su truyền “phải yêu kẻ thù” phải không?

(Xin xem từ tuần trước)

 Trích trong Bạn Biết Gì Về Kinh Thánh?

Nguyên bản tiếng Tây Ban Nha: ¿Qué sabemos de la Biblia?

của ARIEL ALVAREZ VALDES 

San Pablo, Madrid 1999

Chuyển ngữ: Mát-thêu Vũ Văn Lượng, OP

 (Bài biết này có sử dụng một số từ Hy Lạp. Để có thể đọc trọn vẹn bài viết, xin quý đọc giả cài đặt font Hy Lạp. Link download tại đây)

Lời đáp trả khiêm hạ

Thực ra, khi Đức Giê-su hỏi ông Phê-rô lần đầu tiên xem ông có yêu Người không, Đức Giê-su dùng động từ “agapaô”. Câu hỏi thế này: “Si-môn, anh có yêu (avgapa/|j / agapas) Thầy không?” (c. 15). Nhưng Phê-rô đáp lại bằng động từ “phileô” khi ông nói “con thương Thầy” (filw/ se / philô se).

Qua đó Đức Giê-su hỏi ông Phê-rô xem ông có yêu Người bằng tình yêu trọn vẹn không, thứ tình yêu tự hiến và phục vụ vô điều kiện, tình yêu xuất phát từ đáy lòng mà không mong báo đáp. Ông Phê-rô, lúc đầu chối Chúa và thấy mình yếu hèn bồng bột, đã khiêm nhường đáp lại bằng động từ “phileô” mà không tự phụ. Ông cảm thấy mình không thể yêu tột độ như tình yêu “agapaô”.

Khi Đức Giê-su hỏi ông cũng câu hỏi ấy lần thứ hai:

“Si-môn, anh có yêu (avgapa/|j / agapas) Thầy không?” (c. 16), thì ông Phê-rô vẫn khẳng định với Thầy mình khi đáp lại cũng một động từ “phileô”.

Tuy nhiên Đức Giê-su không đòi hỏi gì khác hơn là khả năng của ông, ông phải kiên nhẫn đợi chờ tiến trình trưởng thành của mình. Đức Giê-su hỏi ông Phê-rô lần cuối bằng động từ “phileô” mà ông có thể dùng để đáp lại. Đức Giê-su nói với ông: “Si-môn, anh có thương (filei/j / phileis) Thầy không?” Nhưng ông Phê-rô buồn vì nhận ra mình trong câu hỏi của Đức Giê-su và trong các câu trả lời của ông. Đức Giê-su chấp nhận ông. Tuy nhiên, Người tiên báo rằng tình yêu của ông không dừng ở đó: nó sẽ lớn lên, trưởng thành, và đạt đến yêu cầu của tình yêu “agapaô”, vì sẽ đến ngày ông phải hiến mạng sống mình vì Thầy (Ga 21,18-19).

Hơn nữa, chúng ta biết rằng Đức Giê-su đã nói bằng tiếng A-ram, còn tác giả sách Tin Mừng Gio-an lại dùng ngôn ngữ Hy Lạp trong cuộc đối thoại này để mang lại cho chúng ta bài học quý giá.

Điều mà lệnh truyền đặt ra

Trở lại lời nói của Đức Giê-su khi Người truyền phải yêu kẻ thù thì Người không dùng động từ “eraô”, cũng không phải “stergô” hay “phileô”, mà là “agapaô”. Với động từ đặc biệt này, chúng ta có thể khám phá rõ hơn điều Đức Giê-su muốn truyền dạy.

Đức Giê-su không đòi hỏi chúng ta phải yêu kẻ thù giống như cách chúng ta yêu những người thân chúng ta. Người cũng không đòi buộc chúng ta phải có tình cảm giống như tình cảm chúng ta dành cho người vợ người chồng, cho gia đình mình hay cho bạn hữu mình. Nếu Đức Giê-su muốn kiểu tình yêu này thì Người đã sử dụng những động từ khác.

Tình yêu mà Đức Giê-su đòi hỏi là tình yêu khác: tình yêu “agapê”. Tình yêu này không hệ tại cảm xúc, cũng không hệ tại bất cứ điều gì riêng của con tim. Nếu lệ thuộc vào cảm xúc, tình yêu này không chỉ là một mệnh lệnh bất khả thi, mà còn là sự vô lý, vì không ai có thể bắt chúng ta bày tỏ cảm xúc được.

“Agapê” mà Đức Giê-su đòi hỏi hệ tại một quyết định, một thái độ, một xác quyết liên quan đến ý chí. Điều này có nghĩa là khi được mời gọi “yêu” và vượt thắng những xúc cảm, chúng ta phải trải nghiệm cách tự nhiên. Tình yêu mà Đức Giê-su đòi buộc không bắt chúng ta phải cảm phục hoặc mến mộ những ai xúc phạm đến chúng ta, cũng không bắt phải dùng tình bằng hữu mà đối xử với những ai lăng nhục hay phỉnh gạt chúng ta. Đức Giê-su hoàn toàn không bắt làm như vậy. Điều cần đòi buộc là khả năng trợ giúp và trao tặng sự phục vụ vì đức ái, nếu có khi người ấy cần đến chúng ta là kẻ mà người ấy đã xúc phạm.

Chính Đức Giê-su đã giải thích rõ lệnh truyền  

Qua ba câu văn ngắn gọn, Đức Giê-su muốn giải thích tầm quan trọng của tình yêu đối với kẻ thù trong Tin Mừng Lu-ca (6,27-28).

Trong câu thứ nhất, Đức Giê-su nói: “Hãy làm ơn cho kẻ ghét anh em”. Đức Giê-su không chỉ cấm trả thù những xúc phạm phải chịu, mà Người còn truyền phải trợ giúp họ khi họ gặp khó khăn và cần đến chúng ta. Đây là điều thánh Phao-lô nói: “Nếu kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống”. Và thánh nhân còn trích dẫn sách Châm Ngôn: “Khi làm như thế, ngươi sẽ chất than hồng trên đầu nó” (Rm 12,20). Đức Giê-su thấy rằng đứng trước sự hối tiếc và mối băn khoăn có điều gì xảy ra, vì chính Đức Giê-su thấy rằng có kẻ thù ở giữa chúng ta, trong khi chúng ta không là kẻ thù của người ấy.

Trong câu thứ hai, Đức Giê-su mời gọi: “Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em”. Chúc lành có nghĩa là “chúc điều lành thánh”, “nói điều tốt lành” cho ai đó. Chắc chắn không liên quan đến việc phỉnh gạt người khác, cũng không nói rằng ai đó đang gặp điều may lành đang khi họ thực sự lại gặp điều chẳng may, cũng không ca ngợi họ quá đáng đang khi họ không xứng với điều ca ngợi. Chúc lành nghĩa là có thể nói điều tốt lành cho ai đó xứng với lời chúc ấy và cần phải thực hiện điều ấy, ngay cả khi chúng ta gây điều phiền toái cho người ấy hay người ấy gây điều xấu cho chúng ta.

Trong câu thứ ba, Đức Giê-su nói thêm: “Hãy cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em”. Cầu nguyện cho ai mà thực sự cần, dù người ấy là kẻ thù của chúng ta, là một cách thế trao gởi ân sủng Thiên Chúa vào trái tim người ấy. Và không bao giờ ân sủng Thiên Chúa dành cho kẻ thù lại có thể gây hại cho chúng ta. Trái lại, lời cầu nguyện của chúng ta sẽ mang lại cho người ấy phúc lành, và vì vậy chúng ta có được người ấy không còn là kẻ thù nữa. Hơn nữa, chẳng có ai có thể cầu nguyện cho một người khác rồi lại trút oán hận lên người ấy. Trong sự thâm tâm của người cầu nguyện nảy sinh điều gì đó ngăn chặn người ấy ngay từ đầu không thể hiện sự thù hận.

Tha thứ và lãng quên    

Hãy dừng lại để lý giải một vấn đề quan trọng. Nhiều người nhận ra mình lỗi tội vì nhận được sự thứ tha, nhưng lại không biết tha thứ. Và người ấy thấy rằng việc không biết tha thứ là điều xấu, nhưng lại khó vượt qua.

Có phải sự tha thứ nhất thiết bao hàm trong đó sự quên đi lỗi lầm? Để trấn an người ki-tô hữu, chúng ta không được nói như thế. Không cần thiết phải quên đi lỗi lầm. Vì ký ức là một quan năng hoạt động độc lập với ý muốn của chúng ta. Bằng chứng cho thấy rằng nhiều khi chúng ta muốn nhớ lại những điều gì đó, nhưng chúng ta lại không thực hiện được. Và khi khác chúng ta muốn quên đi những hoàn cảnh sống, nhưng chúng ta lại không thể vượt qua.

Khi một người cứ mãi bị xúc phạm, nếu có trí nhớ tốt hay điều xúc phạm là rất nặng nề, thì có lẽ người ấy sẽ nhớ điều ấy rất lâu. Và người ấy chẳng mắc lỗi gì cả. Trong trường hợp này, sự tha thứ không nhất thiết bao hàm sự quên đi lỗi lầm. Người ta có thể tha thứ và vẫn nhớ đến điều xúc phạm. Người ấy có thể bỏ qua sự xúc phạm và đôi khi tự nhiên nhớ đến nó.

Việc thường xuyên và chủ động gợi lại cho trí nhớ những ký ức đau lòng và những xúc phạm nặng nề, để làm cho nó tồn tại mãi, là điều không nên làm. Việc nhớ lại này là một việc làm sai trái.

Nên giống như Chúa Cha

Vì lý do gì chúng ta, những người Ki-tô hữu, phải bày tỏ tình yêu đối với kẻ thù mình, thái độ phục vụ đối với họ khi xúc phạm đến chúng ta, thiện ý trước mọi chuyện? Đức Giê-su giải thích rằng: vì điều ấy chúng ta nên giống Thiên Chúa hơn, Và Thiên Chúa Cha đã hành động theo cách này là: “… cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45).

Thái độ này của Thiên Chúa có thể làm cho chúng ta bối rối hoang mang. Người Híp-ri cũng cảm thấy xúc động và ấn tượng vì lòng nhân hậu diệu kỳ mà Thiên Chúa bày tỏ cho các thánh nhân lẫn cho tội nhân. Một câu truyện Híp-ri kể rằng khi đuổi theo những người Ít-ra-en đang khi xuất hành, những người Ai Cập đã đi vào dòng nước của Biển Sậy, còn các thiên sứ trên trời thì đồng thanh ca hát reo vui. Bấy giờ Thiên Chúa bắt họ ngưng hát và buồn rầu trách cứ họ rằng: “Công việc tay Ta thực hiện để chấm dứt mạng sống của kẻ bị nhận chìm trong biển này, còn các ngươi lại hát thánh thi ca ngợi Ta?”

Tình yêu của Thiên Chúa thực sự là phổ quát. Sự trợ giúp, sự sẵn sàng, sự chở che của Người dành cho mọi người thuộc những kẻ tin hay không tin là để yêu thương họ, nhưng họ lại xúc phạm Người. Và vì vậy, tình yêu của chúng ta phải nên tinh tuyền. Đó là cách thế duy nhất để chúng ta trở nên giống như Người.

Câu hỏi gợi ý

1. Bao nhiêu hạn từ khác nhau được sử dụng trong tiếng Hy Lạp Kinh Thánh để diễn tả “tình yêu”? Và mỗi từ khác nhau thế nào?

2. Hạn từ nào Đức Giê-su dùng để truyền phải yêu kẻ thù?

3. Tình yêu Ki-tô giáo đối với kẻ thù phải có những đặc tính nào?

4. Có một lúc nào đó chúng ta nhận ra mình có kẻ thù không? Chúng ta hành xử thế nào trong hoàn cảnh ấy?

http://catechesis.net

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

//]]>