Thư Mời Bổn Mạng Tỉnh Dòng Năm 2016
26 August, 2016
Lược sử Dòng Đa Minh
24 September, 2016

Xây Dựng Cuộc Sống…

IV. LIÊN HỆ CON NGƯỜI – CON NGƯỜI: Được kêu gọi để hiệp nhất nên một (Eph 2:11-22, 4:1-6)

  • Không ai là một hòn đảo. Con người muốn tồn tại phải đoàn kết với nhau, “Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết.”
  • “Hợp quần gây sức mạnh.” Khi mọi thành phần trong gia đình hay cộng đoàn đều đồng một lòng một ý, sự gì họ muốn đều có thể làm được; nhưng nếu có sự chia rẽ trong đó, sớm muộn rồi “đường ai nấy đi” và gia đình hay cộng đoàn sẽ đi dần tới chỗ bị diệt vong.

4.1/ Ơn gọi hiệp nhất của người Kitô hữu: Thánh Phaolô viết lá thư này cho các tín hữu Êphesô, khi người đang bị tù tại Rôma. Ngài khuyên các tín hữu như sau: “Vậy, tôi là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau.”

  • Để hiệp nhất, con người cần biết những lý do tại sao họ phải hiệp nhất. Thánh Phaolô đưa ra 7 lý do quan trọng tại sao người Ki-tô hữu chúng ta phải hiệp nhất: Anh/chị/em chúng ta chỉ có:
    (1) Một thân thể: Tất cả các tín hữu là chi thể của một thân thể là Hội Thánh, với Đức Kitô là Đầu. Thân thể của Đức Kitô lành mạnh khi tất cả chi thể lành mạnh. Chi thể nào tách rời khỏi thân thể sẽ không thể tồn tại.
    (2) Một Thánh Thần: Có nhiều quà tặng khác nhau, nhưng chỉ có một Thánh Thần, Đấng ban mọi quà tặng cho các tín hữu trong việc xây dựng Nhiệm Thể của Đức Kitô.
    (3) Một niềm hy vọng: Tất cả các tín hữu đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng là cuộc sống hạnh phúc đời đời với Thiên Chúa và với nhau.
    (4) Một Chúa là Đức Kitô.
    (5) Một niềm tin là tin vào Đức Kitô.
    (6) Một Phép Rửa: bởi Nước và bởi Thánh Thần.
    (7) Một Thiên Chúa là Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người, và trong mọi người.

4.2/ Những đức tính cần thiết cho sự hiệp nhất của người Kitô hữu: Thánh Phao-lô khuyên, “Anh em hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau.” Đây là những đức tính tối quan trọng không chỉ cho người Kitô hữu, mà còn cho tất cả những ai muốn thành công và sống bình an với mọi người.

(1) Khiêm tốn (tapeinofrosunê): Con người khiêm tốn nhận ra chỗ đứng thực sự của mình trong mối tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân. Những người kiêu ngạo không nhận ra điều này, họ tự cho họ đã biết quá nhiều, quá hay, quá đủ; nên bỏ qua những gì Chúa dạy, và lấy chính họ như tiêu chuẩn để phán xét tha nhân. Họ quên đi một sự thật là sự khôn ngoan của họ chỉ là một giọt nước trong biển khôn ngoan của nhân loại, và chẳng là gì so với sự khôn quan của Thiên Chúa. Người khiêm tốn sẽ được Thiên Chúa đoái thương nhìn tới và được mọi người quí mến; trong khi kẻ kiêu căng sẽ bị Thiên Chúa và tha nhân khai trừ.
(2) Hiền từ (prauthi): Con người hiền từ luôn biết cách cư xử nhã nhặn với tất cả mọi người; họ sẽ không để cho tính nóng giận làm chủ con người họ. Ngược lại, người dữ dằn để cho tính nóng giận làm chủ con người; họ nói những lời cộc cằn thô lỗ, và sẵn sàng dùng bạo lực để giải quyết mọi vấn đề.
(3) Nhẫn nại (makrothumia): Con người nhẫn nại luôn biết kiên trì và tìm mọi cách để vượt qua những khó khăn và gian khổ trong cuộc đời. Họ không dễ nản lòng, ta thán, hay bỏ cuộc. Huấn luyện con người đòi chúng ta phải kiên nhẫn hơn cả, như tục ngữ Việt-nam diễn tả, “trăm năm trồng người.” Để đưa một người đã sa ngã về với chính lộ nhiều khi đòi cả cuộc đời. Để đưa con cái hay anh/chị/em chúng ta về với Thiên Chúa, có thể đòi chúng ta phải kiên nhẫn như vậy. Chúng ta đừng dễ mất kiên nhẫn để rồi khai trừ tha nhân ra khỏi cuộc đời chúng ta sau vài ba lần thất bại. Đây là cám dỗ dễ rơi vào cho con người thời nay.
(4) Bác ái (agapê): Thánh Phaolô nêu bật tầm quan trọng của nhân đức này: “Trên hết mọi sự, anh em hãy có nhân đức yêu thương, vì đó là sợi giây ràng buộc mọi điều toàn thiện.” Chúng ta đã nói nhiều lần về nhân đức này, nó chỉ tìm thấy trong khuôn khổ của Kitô Giáo, vì nhân đức này đến từ Thiên Chúa qua Đức Kitô. Chỉ khi nào một người có nhân đức này, họ mới có thể thi hành những điều khó khăn Đức Kitô dạy: phải cầu nguyện, tha thứ, và làm ơn cho kẻ thù; họ mới có thể sẵn sàng hy sinh chết để làm chứng cho Thiên Chúa và bảo vệ tha nhân.

4.3/ Người Ki-tô hữu đã được Đức Ki-tô hòa giải với Thiên Chúa và với nhau:

  • Cây Thánh Giá của Đức Ki-tô nằm có hai thanh: thanh dọc tượng trưng cho sự hòa giải giữa con người với Thiên Chúa, thanh ngang tượng trưng cho sự hòa giải giữa con người với nhau.
  • Người Do-thái và người Dân Ngoại được hoà giải với nhau và với Thiên Chúa: Thánh Phao-lô cắt nghĩa điều này như sau: “Thưa anh em, trước kia anh em là Dân Ngoại trong thân xác, bị kẻ mệnh danh là “giới cắt bì” -nhưng cắt bì trong thân xác, do tay người phàm- gọi là “giới không cắt bì”, anh em hãy nhớ lại rằng thuở ấy anh em không có Đấng Ki-tô, không được hưởng quyền công dân Ít-ra-en, xa lạ với các giao ước dựa trên lời hứa của Thiên Chúa, không có niềm hy vọng, không có Thiên Chúa ở trần gian này. Trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần” (Eph 2:11-13).
  • Đức Ki-tô là nguyên nhân của sự hòa giải: “Thật vậy, chính Người là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do-thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét; Người đã huỷ bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới luật. Như vậy, khi thiết lập hoà bình, Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người. Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hoà giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét. Người đã đến loan Tin Mừng bình an: bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha” (Eph 2:14-18).
  • Tình trạng của chúng ta hiện giờ sau khi đã được thanh tẩy bằng máu Đức Ki-tô, “Vậy anh em không còn phải là người xa lạ hay người tạm trú, nhưng là người đồng hương với các người thuộc dân thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, bởi đã được xây dựng trên nền móng là các Tông Đồ và ngôn sứ, còn đá tảng góc tường là chính Đức Ki-tô Giê-su. Trong Người, toàn thể công trình xây dựng ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh trong Chúa. Trong Người, cả anh em nữa, cũng được xây dựng cùng với những người khác thành ngôi nhà Thiên Chúa ngự, nhờ Thần Khí” (Eph 2:19-22).

4.4/ Hiệp nhất với nhau: Nền tảng Đền Thờ của Thiên Chúa là các Tông-đồ. Chúng ta hãy xem các tông đồ hoạt động với nhau làm sao và bắt chước sự hiệp nhất của họ.

  • Chúng ta không nên thánh một mình, nhưng với anh chị em trong gia đình, cộng đoàn và những người chung quanh.
  • Chúng ta đừng so bì ghen tị với nhau: Thánh Phê-rô được Đức Ki-tô sai đến hoạt động với những người Do-thái, trong khi thánh Phao-lô được Đức Ki-tô sai đến hoạt động với các Dân Ngoại: Mỗi người một sứ vụ để mở mang Nước Chúa.
  • Chúng ta đừng dành cho được sự biết ơn của người khác và gây chia rẽ giữa những chi thể của Đức Ki-tô như các tín hữu Corintô. Thánh Phao-lô cắt nghĩa lý do: “Phao-lô trồng, Apollo tưới, Chúa là Đấng làm cho mọc lên.”
  • Chúng ta phải chung sức lo cho gia đình, cộng đoàn và Giáo-hội mỗi ngày mỗi tiến triển hơn. Chúng ta phải quan tâm chăm sóc đến hết mọi thành phần trong gia đình: trẻ em, người già, bệnh nhân phần hồn cũng như phần xác. Những thành phần yếu kém cần được chăm sóc cách đặc biệt hơn. “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ.” Chúng ta đừng bao giờ có thái độ “sống chết mặc bay.”

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

//]]>